I. Kết quả triển khai nhiệm vụ và hiện trạng khai thác, sử dụng
1. Kết quả triển khai các nhiệm vụ
Trong giai đoạn 2021-2025, ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố đã tập trung triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số theo hướng đồng bộ, từng bước hình thành hệ sinh thái số phục vụ công tác quản lý, điều hành và dạy học.
(1) Đối với chữ ký số
Đã triển khai theo hình thức thuê dịch vụ từ năm 2024 đối với khu vực Hải Phòng (trước sáp nhập); đồng thời, các đơn vị, cá nhân tại khu vực Hải Dương chủ động tự trang bị chữ ký số.
Sau sáp nhập, Sở đã phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông (Viettel, VNPT) tổ chức cấp bổ sung chữ ký số, trong đó có hình thức hỗ trợ miễn phí nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai hồ sơ điện tử, học bạ số.
Đến nay, toàn ngành có khoảng 60.000 cán bộ, giáo viên đã được cấp chữ ký số, cơ bản đáp ứng yêu cầu ký số trong xử lý văn bản điện tử và hồ sơ chuyên môn.
Các chứng thư số được cấp theo hợp đồng thuê dịch vụ giai đoạn 2024-2026 (đến khoảng tháng 10/2026) và các chương trình hỗ trợ của doanh nghiệp, bảo đảm đáp ứng yêu cầu triển khai trong giai đoạn hiện nay. Tổng kinh phí được phê duyệt là 12.177,04 triệu đồng; kinh phí đã giao đến năm 2025 là 12.119,04 triệu đồng; kinh phí còn lại là 58,00 triệu đồng.
Đánh giá: Việc triển khai chữ ký số đã tạo nền tảng quan trọng cho việc số hóa quy trình nghiệp vụ, giảm sử dụng văn bản giấy, từng bước hình thành môi trường làm việc điện tử trong toàn ngành.
(2) Đối với cổng thông tin điện tử
Đã triển khai hệ thống cổng thông tin điện tử ngành theo hình thức thuê dịch vụ, bao gồm 01 cổng thông tin chính của Sở và các cổng thành phần tại cơ sở giáo dục.
Trước sáp nhập, hai khu vực triển khai theo hai mô hình khác nhau (Quảng Ích và Viettel). Sau sáp nhập, hệ thống đã được mở rộng, tích hợp và vận hành thống nhất với tổng số khoảng 1.600 cổng thành phần. Trước sáp nhập, khu vực Hải Phòng có khoảng 800 cổng thành phần và 01 cổng chính; khu vực Hải Dương có 783 cổng thành phần.
Hệ thống được triển khai theo hợp đồng thuê dịch vụ có thời hạn đến năm 2028, bảo đảm duy trì, vận hành ổn định trong giai đoạn trung hạn. Tổng kinh phí được phê duyệt là 7.610,33 triệu đồng; kinh phí đã giao đến năm 2025 là 3.216,74 triệu đồng; kinh phí còn lại là 4.393,59 triệu đồng.
Đánh giá: Hệ thống góp phần nâng cao tính minh bạch, tăng cường tương tác và hỗ trợ cải cách hành chính trong ngành giáo dục.
(3) Đối với phần mềm tuyển sinh đầu cấp
Đã triển khai phần mềm tuyển sinh trực tuyến đối với các cấp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở từ năm 2024.
Sau sáp nhập, hệ thống được mở rộng triển khai thống nhất toàn thành phố, đồng thời được nâng cấp đáp ứng yêu cầu tuyển sinh không theo địa giới hành chính.
Hệ thống vận hành ổn định, hỗ trợ hiệu quả công tác tuyển sinh, giảm áp lực cho phụ huynh và cơ sở giáo dục, bảo đảm công khai, minh bạch.
Hệ thống được triển khai theo hợp đồng thuê dịch vụ giai đoạn 2024-2026, phục vụ công tác tuyển sinh đến hết năm học 2026-2027. Tổng kinh phí được phê duyệt là 5.492,51 triệu đồng; kinh phí đã giao đến năm 2025 là 3.969,51 triệu đồng; kinh phí còn lại là 1.523,00 triệu đồng.
Đánh giá: Là một trong những hệ thống triển khai hiệu quả, có tác động trực tiếp đến người dân, góp phần cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực giáo dục.
(4) Đối với cơ sở dữ liệu ngành giáo dục
Đã triển khai hệ thống cơ sở dữ liệu ngành, tích hợp các phân hệ quản trị nhà trường, phục vụ công tác quản lý học sinh, giáo viên, kết quả học tập và các hoạt động giáo dục. Tổng kinh phí đầu tư xây dựng là 6.472.784.418 đồng (tương đương khoảng 6.472,78 triệu đồng); kinh phí còn lại là 0 đồng.
Sau sáp nhập, Sở đã thực hiện tập trung, tích hợp dữ liệu về Trung tâm dữ liệu của thành phố, bước đầu hình thành hệ thống dữ liệu dùng chung toàn ngành.
Đánh giá: Đây là nền tảng cốt lõi của chuyển đổi số ngành giáo dục, tạo cơ sở cho việc kết nối, chia sẻ dữ liệu và triển khai các dịch vụ số.
(5) Đối với kiểm định chất lượng giáo dục
Đã triển khai phần mềm kiểm định chất lượng giáo dục tại khu vực Hải Dương trước sáp nhập, cung cấp tài khoản sử dụng cho các cơ sở giáo dục. Trong 06 tháng đầu năm 2024 đã cấp 793 license cho 793 cơ sở giáo dục, kinh phí 713,7 triệu đồng; theo kế hoạch, tổng kinh phí thuê trong 05 năm là 7,5 tỷ đồng.
Đánh giá: Bước đầu hỗ trợ công tác tự đánh giá, kiểm định chất lượng.
2. Hiện trạng khai thác, sử dụng
- Cơ sở dữ liệu ngành: Đã được chuyển về Trung tâm dữ liệu thành phố; tuy nhiên việc khai thác, liên thông và chia sẻ dữ liệu còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý tập trung toàn ngành.
- Cổng thông tin điện tử, phần mềm tuyển sinh: Hiện vẫn vận hành trên hạ tầng của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, chưa được đưa về hạ tầng tập trung của thành phố, gây khó khăn trong quản lý thống nhất.
- Đối với cổng thông tin điện tử, Sở đã phối hợp với Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia (NTSC) thực hiện gán nhãn tín nhiệm mạng đối với Cổng thông tin điện tử của Sở và các trang thành phần. Tuy nhiên, tại một số đơn vị, việc khai thác, sử dụng và đăng tải thông tin chưa được quan tâm đúng mức, chưa phát huy hiệu quả. Nhiều đơn vị vẫn sử dụng các nền tảng mạng xã hội (Facebook, Zalo) làm kênh thông tin chủ yếu trong công tác tuyên truyền, trong khi cổng thông tin điện tử (kênh thông tin chính thống) chưa được khai thác, sử dụng hiệu quả.
- Kiểm định chất lượng giáo dục: Phạm vi triển khai còn hạn chế, chưa áp dụng đồng bộ trên toàn thành phố.
- Chữ ký số: Đã được triển khai và sử dụng rộng rãi trong toàn ngành, phục vụ xử lý văn bản điện tử, ký số hồ sơ chuyên môn và học bạ số. Đến nay, khoảng 60.000 cán bộ, giáo viên đã được cấp chữ ký số, cơ bản đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trên môi trường điện tử.
- An toàn thông tin: Các hệ thống chưa được xác định, thẩm định và phê duyệt cấp độ an toàn thông tin theo quy định.
II. Khó khăn, vướng mắc
1. Về nguồn lực và cơ chế đầu tư
Các hệ thống được triển khai theo nhiều hình thức khác nhau (đầu tư, thuê dịch vụ, hỗ trợ), thiếu tính đồng bộ.
Sau sáp nhập, quy mô, phạm vi sử dụng và yêu cầu khai thác đối với các hệ thống tăng lên; cơ chế duy trì, nâng cấp và tổ chức vận hành một số hệ thống cần được rà soát, điều chỉnh phù hợp với mô hình quản lý mới.
2. Về cơ sở dữ liệu ngành giáo dục
Hệ thống cơ sở dữ liệu ngành giáo dục được xây dựng từ năm 2021 theo quy mô, mô hình quản lý và yêu cầu nghiệp vụ tại thời điểm đầu tư. Từ đó đến nay, phạm vi quản lý, số lượng cơ sở giáo dục, người dùng, dữ liệu phát sinh và yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu đã có nhiều thay đổi, đặc biệt sau khi sắp xếp đơn vị hành chính và hợp nhất địa bàn. Trong khi đó, hệ thống chưa được đầu tư nâng cấp tổng thể tương ứng, dẫn đến một số hạn chế về năng lực đáp ứng, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu.
Kiến trúc hiện tại chưa phân tách rõ hai nhóm chức năng có tính chất khác nhau: cơ sở dữ liệu ngành phục vụ quản lý nhà nước, tổng hợp và chia sẻ dữ liệu dùng chung; hệ thống quản trị nhà trường phục vụ hoạt động tác nghiệp thường xuyên tại từng cơ sở giáo dục. Việc tích hợp hai nhóm chức năng trong cùng một hệ thống làm tăng mức độ phụ thuộc, gây khó khăn khi mở rộng quy mô, thay đổi nghiệp vụ, nâng cấp công nghệ và kết nối với Kho dữ liệu dùng chung của thành phố.
Trong giai đoạn tới, cần tổ chức lại kiến trúc theo hướng: cơ sở dữ liệu ngành được xây dựng thành hệ thống dữ liệu tập trung, thống nhất, phục vụ quản lý nhà nước và kết nối, chia sẻ dữ liệu; các hệ thống quản trị nhà trường được triển khai độc lập, linh hoạt tại cơ sở giáo dục và kết nối với cơ sở dữ liệu ngành thông qua tiêu chuẩn, quy chuẩn và giao diện chia sẻ dữ liệu thống nhất.
3. Về an toàn thông tin
Các hệ thống chưa được xác định cấp độ an toàn thông tin; chưa hoàn thiện hồ sơ và phương án bảo đảm an toàn thông tin theo quy định, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn dữ liệu.
III. Kiến nghị, đề xuất
1. Đối với cơ sở dữ liệu ngành giáo dục
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện kiến trúc cơ sở dữ liệu ngành giáo dục, bảo đảm phù hợp với quy mô quản lý sau sáp nhập và yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu với Kho dữ liệu dùng chung của thành phố.
Phân định rõ cơ sở dữ liệu ngành phục vụ quản lý nhà nước, tổng hợp và chia sẻ dữ liệu dùng chung với hệ thống quản trị nhà trường phục vụ hoạt động quản lý, điều hành tại các cơ sở giáo dục; đồng thời xác định tiêu chuẩn, phương thức kết nối và chia sẻ dữ liệu thống nhất giữa các hệ thống.
2. Đối với cổng thông tin điện tử
Đề nghị thành phố tiếp tục bố trí kinh phí duy trì và vận hành thống nhất hệ thống cổng thông tin điện tử ngành giáo dục trên toàn thành phố đến năm 2028.
3. Đối với phần mềm tuyển sinh đầu cấp
Sở Giáo dục và Đào tạo căn cứ chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, yêu cầu quản lý của thành phố và kết quả triển khai thực tế để tiếp tục nghiên cứu, đánh giá hiệu quả của phần mềm tuyển sinh đầu cấp; trên cơ sở đó đề xuất phương án triển khai trong giai đoạn tiếp theo, bảo đảm phù hợp với quy định, điều kiện thực tiễn và yêu cầu tổ chức tuyển sinh thống nhất trên toàn thành phố.
4. Về an toàn thông tin
Đề nghị Công an thành phố hướng dẫn Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện xác định cấp độ an toàn thông tin; phối hợp rà soát, hoàn thiện hồ sơ, phương án và triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin đối với các hệ thống theo quy định và thẩm quyền.