1. Quán triệt và tổ chức triển khai Quyết định số 100/QĐ-BCĐ
Sở đã hoàn thành việc ban hành Kế hoạch triển khai theo yêu cầu; đồng thời quán triệt các nhiệm vụ liên quan trong các cuộc giao ban định kỳ, yêu cầu các phòng, đơn vị chủ động tổ chức thực hiện. Nhiệm vụ quán triệt, triển khai được xác định đã hoàn thành bước ban hành văn bản và chuyển sang thực hiện thường xuyên.
2. Rà soát hạ tầng, trang thiết bị phục vụ chuyển đổi số
Sở Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện rà soát thiết bị máy tính, máy in và các thiết bị tại cơ quan Sở từ đó có căn cứ đề xuất việc đầu tư, bổ sung thiết bị để phục vụ công việc. Qua rà soát nhiều thiết bị máy tính khác hiện có đã cũ, xuống cấp, không đáp ứng yêu cầu công việc; một số thiết bị hỏng, phải sử dụng thiết bị cá nhân để làm việc; nhiều thiết bị chưa được trang bị đầy đủ phần mềm bản quyền phục vụ công việc và bảo đảm an toàn thông tin. Trên cơ sở đó, Sở Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất nhu cầu đầu tư, bổ sung các thiết bị như: máy vi tính để bàn, máy vi tính xách tay, máy in, bản quyền hệ điều hành, bản quyền phần mềm Office, bản quyền phần mềm diệt virus;, bản quyền phần mềm nén, giải nén tệp, bản quyền/phương án phần mềm họp trực tuyến.
Đến thời điểm báo cáo, nhiệm vụ đang chờ kết quả tổng hợp, hướng dẫn của Sở Khoa học và Công nghệ để tiếp tục thực hiện theo thẩm quyền và nguồn lực được bố trí.
3. An toàn thông tin, hồ sơ cấp độ hệ thống thông tin
Qua rà soát phục vụ nhiệm vụ theo Quyết định số 100/QĐ-BCĐ, đến thời điểm báo cáo Sở Giáo dục và Đào tạo không có hệ thống thông tin cấp độ 4 và cấp độ 5; do đó không phát sinh hồ sơ cấp độ 4, cấp độ 5 thuộc phạm vi chủ quản của Sở.
Đối với các hệ thống thông tin khác thuộc phạm vi quản lý, Sở tiếp tục rà soát yêu cầu cấp độ, phân quyền tài khoản, sao lưu, khôi phục, nhật ký truy cập, phương án ứng cứu sự cố và phối hợp cung cấp dữ liệu phục vụ xây dựng Bản đồ cấp độ an ninh mạng của thành phố theo tiến độ.
Kết quả rà soát chuyển đổi số của ngành trước thời điểm triển khai Quyết định số 100/QĐ-BCĐ cho thấy 94,81% cơ sở giáo dục đã triển khai giải pháp bảo đảm an toàn môi trường giáo dục số. Đây là nền tảng để tiếp tục hoàn thiện các yêu cầu về an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong giai đoạn cao điểm.
4. Tái cấu trúc thủ tục hành chính, dịch vụ công dựa trên dữ liệu
a) Lựa chọn thủ tục hành chính có tần suất cao để tái thiết kế
Thực hiện yêu cầu của thành phố về lựa chọn nhóm thủ tục hành chính phát sinh nhiều hồ sơ, Sở Giáo dục và Đào tạo đã rà soát, đề xuất thủ tục hành chính “Cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc” để tái thiết kế quy trình theo hướng đơn giản hóa thành phần hồ sơ, giảm thao tác trên môi trường số, khai thác và tái sử dụng dữ liệu đã có trong cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước.
Theo thống kê từ ngày 01/8/2026 đến ngày 24/8/2026, toàn Sở ghi nhận 412 hồ sơ tiếp nhận, gồm 40 hồ sơ chuyển từ kỳ trước và 372 hồ sơ tiếp nhận trong kỳ. Toàn bộ 372 hồ sơ tiếp nhận mới trong kỳ được tiếp nhận trực tuyến, không phát sinh hồ sơ tiếp nhận trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.
Lĩnh vực văn bằng, chứng chỉ phát sinh 351 hồ sơ, chiếm khoảng 85,2% tổng số hồ sơ được thống kê, là lĩnh vực có tần suất phát sinh hồ sơ lớn nhất; qua đó cho thấy việc ưu tiên tái thiết kế thủ tục “Cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc” phù hợp với nhu cầu thực tế.
Đến ngày 24/8/2026, đã giải quyết 379 hồ sơ, trong đó 375 hồ sơ trước hạn, 01 hồ sơ đúng hạn; đang giải quyết 30 hồ sơ và toàn bộ số hồ sơ đang giải quyết đều trong hạn.
b) Thực hiện cắt giảm, đơn giản hoá Thủ tục hành chính
Sở đã triển khai rà soát việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu đến các phòng thuộc Sở. Theo kết quả tổng hợp, đối với phương án cắt giảm, đơn giản hóa, tái cấu trúc các thủ tục hành chính do cơ quan Trung ương ban hành, Bộ, ngành công bố, Sở hiện đang thực hiện trên hệ thống giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Giáo dục và Đào tạo nên không có đề xuất, kiến nghị tại nội dung này.
Đối với thủ tục hành chính do thành phố Hải Phòng ban hành, qua rà soát Sở đến thời điểm báo cáo chưa có thủ tục thuộc phạm vi để đề xuất phương án cắt giảm, đơn giản hóa, tái cấu trúc.
5. Số hóa, chuẩn hóa và kết nối, chia sẻ dữ liệu giáo dục
Ngày 11/8/2026, Sở Giáo dục và Đào tạo đã có Văn bản số 4937/SGDĐT-VP đề nghị Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin - Bộ Giáo dục và Đào tạo hỗ trợ kết nối, chia sẻ dữ liệu từ Hệ thống cơ sở dữ liệu ngành giáo dục với Kho dữ liệu dùng chung thành phố Hải Phòng.
Các nhóm dữ liệu đề nghị được kết nối, khai thác trước mắt gồm:
- Dữ liệu cơ sở giáo dục: mã cơ sở giáo dục, tên cơ sở giáo dục, loại hình, cấp học/loại hình giáo dục, địa bàn, trạng thái hoạt động và các thông tin danh mục dùng chung có liên quan;
- Dữ liệu trường, lớp: mã cơ sở giáo dục, năm học, cấp học/khối học, số lớp và các thông tin phục vụ thống kê, quản lý quy mô giáo dục;
- Dữ liệu người học: mã định danh hoặc mã liên kết dữ liệu trong trường hợp được phép chia sẻ, đơn vị/lớp học, trạng thái học tập và các thông tin phục vụ thống kê, quản lý;
- Dữ liệu đội ngũ: thông tin định danh hoặc mã liên kết dữ liệu trong trường hợp được phép chia sẻ, đơn vị công tác, vị trí/chức danh, trạng thái công tác và các thông tin phục vụ thống kê đội ngũ;
- Dữ liệu giáo dục thường xuyên; dữ liệu tổng hợp, danh mục dùng chung và các nhóm dữ liệu khác thuộc phạm vi quản lý của thành phố khi đủ điều kiện chia sẻ.
Mục tiêu kết nối là đồng bộ dữ liệu giáo dục thuộc địa bàn Hải Phòng với Kho dữ liệu dùng chung của thành phố; phục vụ quản lý, chỉ đạo, điều hành, thống kê, phân tích; hạn chế thu thập lại dữ liệu đã có; từng bước tái sử dụng dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công và các nhiệm vụ chuyển đổi số.
Sở đã đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cung cấp/hướng dẫn tài liệu kỹ thuật, danh mục dịch vụ dữ liệu/API, xác định phạm vi dữ liệu được phép khai thác, phương thức xác thực, phân quyền, tần suất đồng bộ, yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin và bố trí đầu mối phối hợp để khảo sát, thử nghiệm, triển khai kết nối.
Đến ngày 24/8/2026, Sở đã hoàn thành bước xác định nhu cầu, phạm vi dữ liệu và đề nghị cơ quan chủ quản CSDL ngành hỗ trợ kết nối; việc kết nối kỹ thuật, kiểm thử và khai thác thực tế tiếp tục phụ thuộc tài liệu kỹ thuật, API và phạm vi chia sẻ được Bộ Giáo dục và Đào tạo chấp thuận.
6. Phát triển dữ liệu giáo dục, học bạ số, văn bằng số và Đề án 06
- 100% cơ sở giáo dục thực hiện cập nhật dữ liệu và triển khai phần mềm quản trị nhà trường; công tác chuẩn hóa, đối soát dữ liệu được thực hiện thường xuyên;
- 100% cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên đã triển khai học bạ số;
- 100% đơn vị trực thuộc sử dụng eOffice và chữ ký số;
- Dữ liệu văn bằng giai đoạn 2015-2025 đã được số hóa, chuẩn hóa theo lộ trình;
- Đã xây dựng mới 401.310 học liệu số; 67,08% cơ sở giáo dục khai thác LMS; 63,68% cơ sở giáo dục thực hiện đánh giá định kỳ trên máy tính;
- 97,39% giáo viên được tập huấn kỹ năng ứng dụng AI và năng lực số; 93,39% cơ sở giáo dục triển khai thanh toán không dùng tiền mặt.
Trong giai đoạn tiếp theo, Sở tập trung rà soát, làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu người học; đối soát mã định danh người học với số định danh cá nhân; tiếp tục triển khai học bạ số, văn bằng, chứng chỉ số, hồ sơ học tập suốt đời và tích hợp, xác thực trên VNeID khi đủ điều kiện pháp lý, dữ liệu và kỹ thuật.
Sở Giáo dục và Đào tạo đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới phụ huynh học sinh thực hiện kích hoạt tài khoản định danh điện tử cho nhóm công dân từ đủ 06 tuổi đến dưới 18 tuổi.
7. Rà soát chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực số
Sở đã giao Phòng Giáo dục Thường xuyên, Giáo dục Nghề nghiệp và Đại học chủ trì hướng dẫn, đôn đốc các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp rà soát, cập nhật chương trình đào tạo thuộc thẩm quyền, ưu tiên các nội dung về công nghệ chiến lược, kỹ năng số, đổi mới sáng tạo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Đồng thời, Sở tiếp tục bồi dưỡng năng lực số, quản trị dữ liệu, an toàn thông tin và sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm cho đội ngũ; phối hợp thử nghiệm các nền tảng, công cụ số dùng chung của thành phố khi được cơ quan chủ trì triển khai.
8. Rà soát chính sách hỗ trợ người làm công tác chuyên trách chuyển đổi số, an ninh mạng
Tại thời báo cáo, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổng hợp có 01 người đủ điều kiện làm công tác chuyên trách chuyển đổi số, an ninh mạng thuộc phạm vi quản lý và đồng thời xác nhận hoàn thành nhiệm vụ; Hiện nay đã thực hiện chi trả theo Nghị định số 179/2025/NĐ-CP
9. Kinh phí, phân bổ và giải ngân
Sở đã yêu cầu các phòng chuyên môn rà soát, đẩy nhanh thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026; hoàn thiện thủ tục pháp lý, nghiệm thu, bàn giao, hồ sơ thanh toán đối với nhiệm vụ đã được bố trí kinh phí; đồng thời hoàn thiện hồ sơ đối với nhiệm vụ chưa phân bổ chi tiết hoặc chưa được phê duyệt chủ trương.
Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục rà soát tình trạng pháp lý, dự toán, sản phẩm, tiến độ, nhu cầu phân bổ và khả năng giải ngân; mốc báo cáo đẩy nhanh giải ngân năm 2026.